“Vỏ tín chỉ, ruột niên chế” do đâu? Qua thăm dò hàng ngũ ở nhiều trường đại học trên địa bàn miền Trung, phần đông cho rằng, việc đào tạo tín chỉ vẫn còn ở dạng nửa vời, do còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Tại nhiều hội nghị, hội thảo của các trường đại học đánh giá kết quả cũng như đúc rút kinh nghiệm đào tạo theo hệ thống tín chỉ, những khó khăn, chướng ngại được nêu ra là: Sự thiếu đồng bộ về cơ sở phòng ốc, thiết bị, giáo trình dạy học ăn nhập với tín chỉ; việc xây dựng kế hoạch, khâu quản lý SV phức tạp; khâu chấm điểm, đánh giá còn nhiều lúng túng khi phải thực hiện một quy chế hoàn toàn mới; GV còn phụ trách nhiều giờ và chưa đồng đều về năng lực nên hạn chế tính tuyển lựa của SV… PGS.TS Trịnh Thị Định - Đại học Huế cho rằng: “Việc tuân thủ nghiêm ngặt lộ trình giảng dạy theo đề cương của từng học phần đồng thời đòi hỏi giảng sư phải luôn dành thời gian cập nhật tri thức để chuẩn bị cho các buổi lên lớp là một bài toán nan giải của phần đông giảng viên bây giờ.”. Hoạt động dạy – học theo tín chỉ được tổ chức theo 3 hình thức lên lớp, thực hiện và tự học. Ba hình thức tổ chức dạy học này ứng với 3 giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học. Phương pháp dạy học coi người học là trọng tâm, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo của người học biểu đạt rất rõ; GV sẽ phải thay đổi kiểu lối dạy thầy đọc trò chép khá phổ quát trước đây, rút được 1/3 thời gian lên lớp nhưng tăng thời kì chuẩn bị cho giờ giảng. Thời kì lên lớp của SV cũng giảm được trên 1/2, trong khi lượng tri thức không giảm và còn được nâng cao các kỹ năng cần thiết khác. Liệu GV có kịp thời đáp ứng được yêu cầu của PP giảng dạy mới hay không? PGS.TS Nguyễn Trường Sơn và ThS Nguyễn Bắc Nam –Ban đào tạo Đại học Đà Nẵng đã cho một quan điểm khá chính xác: “đa số các cán bộ giảng dạy của ĐH Đà Nẵng được tuyển dụng từ các SV xuất sắc của trường. Họ có trình độ chuyên môn và năng lực tư duy tốt. Song PP giảng dạy truyền thống của người thầy trước đó đã ăn sâu trong nhận thức và rất khó thay đổi. Hơn nữa, đa số CBGD (ngoại trừ các CBGD của ĐH Sư phạm và ĐH Ngoại ngữ) không hoặc ít được đào tạo về phương pháp dạy- học, lý luận về dạy học ở các trường đang rất ít được quan hoài”. Với những CBGD có năng lực mà còn gặp trở ngại, khó khăn như vậy, huống gì ở một số trường đại học bây chừ còn một bộ phận GV (kể cả CBQL) do tuổi tác, do“sức ỳ” trở thành “xơ cứng”, lên lớp vẫn quen với một kiểu xào xáo giáo trình, tài liệu. Từ những bất cập này, kéo theo hệ quả thụ động học tập trong sinh viên là thế tất. Cải tiến phương thức quản lý đào tạo
Theo TS Lê Thanh Sơn, Phó Giám đốc Đại học Huế, thì “một thách thức lớn nhất đặt ra cho các đơn vị tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ là phải có được một hàng ngũ cán bộ quản lý sinh viên được đào tạo bài bản, thông tỏ nghiệp vụ, đáp ứng được đề nghị của môi trường mới”… Ý kiến này thật xác đáng, bởi một khi đổi thay phương thức đào tạo thì tất yếu là phải đổi thay phương thức quản lý. Phương thức quản lý không còn dựa vào cấp vĩ mô mà phải chuyển sang quản lý vi mô, lấy việc quản lý từng cá nhân người học làm trọng tâm. Cụ thể: phương thức quản lý SV theo kiểu truyền thống là tổ chức các lớp học niên chế duyệt ba chủ nhiệm, nay có thêm các lớp học tín chỉ yêu cầu phải xây dựng hệ thống cố vấn học tập thay cho hình thức GV chủ nhiệm. Vai trò nghiêm đường cố vấn học tập (GVCVHT) ở từng khoa khôn cùng quan yếu khi phải chỉ dẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu và sáng tạo của SV, chứ không phải chỉ đơn thuần là nắm bắt tình hình để đánh giá, nhấc như vai trò của GVCN. Với học theo tín chỉ, ngay từ trong hè, học sinh đã phải tự sắp xếp chương trình học tập, tự tìm thầy dạy, chọn môn nào học trước, môn nào học sau để không ảnh hưởng đến kết quả học tập. Do bỏ điều kiện dự thi (không còn khái niệm ở lại lớp), SV có thể học vượt để rút ngắn thời kì, có những SV cùng một lúc đăng ký nhiều môn học, dễ đến bị hổng kiến thức, khó chấm điểm cần cù, điểm rèn luyện. Nhất là khi một lớp học tín chỉ hiện nay thường có đến cả trăm SV trở thành, rất khó theo dõi điểm cần cù và một số nơi còn đưa quá nhiều điều kiện tiên quyết vào học phần của chương trình đào tạo. Tất cả đều cần ở thời kì và tầm hiểu sao quát của GVCVHT, để có thể tham mưu cho SV từ cách thức xây dựng kế hoạch cho toàn khóa học sao cho phù hợp với năng lực và cảnh ngộ đến hướng dẫn giải quyểt những khó khăn trong học tập và nghiên cứu khoa học, tìm việc làm. Nhưng ở phần đông các trường ĐH hiện còn quá ít GVCVHT đáp ứng được những đề nghị này. Xác định quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một công việc lâu dài và khó khăn nên từ năm học 2009 -2010, Đại học Huế đã có nhiều khởi động hăng hái, đặc biệt là ưu tiên hoàn thiện phần mềm quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ (không chỉ về góc độ CNTT mà ở cả khía cạnh quản lý đào tạo) lấy quy chế 43 của Bộ GD-ĐT làm gốc và quan hoài đến đặc thù của Trường, khoa… Sự cẩn trọng trong công tác quản lý đào tạo tín chỉ ở Đại học Huế trình diễn.# Rõ ở sự kết hợp đồng bộ giữa các tổ chức đoàn thể, Hội sinh viên trong phối hợp với các bộ phận, phòng, khoa, đặc biệt là sự tham dự của tổ chức công đoàn trong quản lý chuyên môn. Nhà giáo Bảo Khâm -Trường Đại học Ngoại Ngữ - ĐH Huế đã rất sâu sát khi cho rằng: “Công đoàn chẳng những chỉ diễn tả vai trò là chỗ dựa ý thức, tình cảm, mà còn là chỗ dựa vững chắc về chuyên môn, góp phần cùng chính quyền, đảm bảo tính linh hoạt trong đào tạo, nhằm từng bước duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo. Để thực hành được vai trò này, hướng hoạt động chuyên môn của công đoàn cần bám sát yêu cầu chuyên môn của hệ thống đào tạo tín chỉ”. Đại học Đà Nẵng có sự vận hành sớm hơn trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, có sự sáng tạo và linh hoạt trong từng bước đi. Các trường thành viên đều cho SV tự đăng ký học tập trực tuyến theo nhu cầu và năng lực cá nhân chủ nghĩa. Mỗi GV, mỗi SV đều có thời khóa biểu riêng. Tuốt tuột hệ thống quản lý đào tạo, quản lý SV vận hành theo đề nghị riêng của từng SV. Quơ khâu đánh giá kết quả của học tập của SV được diễn đạt thống nhất, khách quan, bảo đảm tách biệt giữa hoạt động giảng dạy, ra đề thi và đánh giá kết quả học tập. Đặc biệt, trường ĐH Kinh tế-ĐHĐN là trường ĐH trước tiên trong cả nước thực hiện việc kết liên với nhà băng để phát thẻ đa năng, mang lại nhiều tiện ích cho SV, song song là bước đột phá trong quy trình tổ chức thu kinh phí đào tạo ăn nhập với đặc thù của đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Việc tổ chức quản lý của nhà trường còn cho phép SV và phụ huynh có thể chóng vánh cập nhật kết quả khi kết thúc học phần. Thúy Hồng |
Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013
Đào tạo theo tín chỉ: Không thể quản lý “nửa vời”
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét